
QUY TRÌNH LẬP BAN THỜ THẦN LINH – GIA TIÊN VỀ NHÀ MỚI
14 BƯỚC
| Bước | Nội dung |
Ghi chú |
| 1. | Tẩy uế – sái tịnh | – Tẩy uế bằng vật chất: xông trầm, bồ kết, nước thơm – tẩy uế bằng chú: chú “án lam xoa ha (7 lần)”, chú chuẩn đề |
| 2. | Nạp cốt bát nhang | 1- lót đáy bát nhang bằng giấy thiếp vàng,
2- đặt lớp tiền âm từ 3-5 loại 3- đặt lớp tiền dương 5 đồng tiền các loại 4- đặt gói di hiệu, cốt đỏ và cốt thất bảo 5- cho các phần còn lại của cốt bát nhang 13 món vào: Gạo vàng, chỉ ngũ sắc, đá thạch anh, bột trầm, … 6- bốc tro bằng tay trái và do chủ nhà bốc số nắm tro Chia hết cho 4 dư 1 là được. Đặt bát nhang vào trung cung của ban thờ |
| 3. | Bài trí | Bài trí ban thờ đúng bố cục ban thờ (sử dụng thập tứ ca quyết để bài trí) |
| 4. | Thỉnh thần
Linh, gia Tiên ứng lô Nhang |
Tắt hết đèn, nến, điện khi thỉnh thần linh, gia tiên, bà cô, ông mãnh linh ứng lô nhang
Thỉnh tất cả các vị thần linh cùng 1 lúc Dùng ấn tý dần, cầm nhang trỏ vào lô nhang để thỉnh mời. Nên thỉnh 3 lần Thỉnh thần linh trước – gia tiền – bà cô, ông mãnh |
| 5. | Dâng lễ | Gia chủ dâng 1 tuần nhang (chỉ nên dùng 1 nén nhang cho mỗi lần thắp) – tuần 1
Thầy mời các gia chủ khấu đầu đỉnh lễ các chư vị ngũ bái Trình bày lý do: (tham khảo bên dưới) Mời các chư vị chứng lễ nghi, kim ngân,… |
| 6. | Dâng sớ | Dâng tuần nhang thừ 2
Dâng sớ tạ đất Dâng sớ tiến mã thổ công Dâng sớ tiến mã ngũ phương Dâng sớ tiến mã tạ long và đền hoàn long mạch Dâng sớ xin phần sài trấn trạch căn nhà |
| 7. | Khai quang và tiến mã | Khai quang mã và tiến mã
Nếu có các vật phẩm, pháp bào thì xin khai quang và Trì chú luôn (xem thêm các bước khai quang, trì chú, Đặt để linh vật, vật phẩm) |
| 8. | Trì chú | Trí chú để nâng cao năng lượng cho nơi thờ tự, cho
Các pháp bảo thêm năng lượng và linh khí |
| 9. | Dâng tấu | Cầu phúc,
Danh – lộc Dâng sớ phúc thọ Dâng sớ cầu danh Dâng sớ cầu lộc – cầu tài |
| 10. | Sám hối | Tuần nhang thứ 3
Sám hối cho thầy trước -sám hối viết lách, in ấn tấu sớ -sám hồi việc kêu cầu, tấu đối còn chưa tròn vành, rõ Chữ, chưa đúng âm luật, … Sám hối cho gia chủ sau: (xem thêm phần hướng dẫn) |
| 11. | Hồi hướng
Công đức |
Hồi hướng công đức của đàn lễ ngày hôm nay xin cầu
Cho nội gia tiên tổ, bà cô ông mãnh nhà gia chủ sớm Được siêu sinh, tịnh độ, sang cõi vãng sanh cực lạc. Dùng chú vãng sanh (3 hoặc 7 biến) |
| 12. | Phát nguyện | Phát nguyện nhất một lòng, tâm một dạ xin được
Phụng thờ các chư vị |
| 13. | Cầu | Cầu theo thứ tự sau và cần phải xin hứa khi cầu xong
1- cầu phúc, gia đạo 2- cầu sức khoẻ 3- cầu cho con cái 4- cầu công danh 5- cầu tài lộc |
| 14. | Tạ lễ | Cáo tạ lễ và xin chư vị phù hộ cho thầy
Thầy cùng các gia chủ khấu đầu bái tạ tam bái |
CHI TIẾT THỰC HIỆN CÁC BƯỚC
I- CHUẨN BỊ ĐỒ THỜ VÀ LỄ NGHI
1- Mua sắm đồ thờ: Tuỳ nhu cầu thờ tự và điều kiện để mua đồ thờ cúng và ban
thờ cho phù hợp. Tham khảo các mẫu bài trí ban thờ.
Quy tắc bài trí ban thờ: Theo thập tứ ca quyết




Đồ dùng cơ bản
– Đèn dầu 1 chiếc. – Choé đựng gạo, muố: 2 choé – 1 ống cắm hương, 1 bình cắm hoa – 1 mâm bồng đựng hoa quả – 2 bát nhang từ 14-16cm, 1 bát nhang to hơn 2 bát còn lại 2cm kèm tro bốc bát
nhang – Đế gỗ bát nhang vừa bát hương – 1 bộ ấm chén pha trà 5 chén nhỏ
2- Sắm lễ ban thần linh:
Lễ trên ban – 1 gà trống luộc để nguyên con. – Tiền vàng 1 đĩa. – 1 đĩa hoa quả 5 loại quả – Gạo, muối để nạp choé – Lễ tam sên gồm 1 khổ thịt 3 chỉ quay, 3 con tôm luộc, 3 quả chứng vịt/gà luộc. – 1 bình hoa tươi, 10 chén nhỏ. – 5 non bia, 1 bao thuốc lá, 1 chai rượu trắng, 1 đĩa bánh kẹo, 1 gói chè Thái Nguyên,
1 hộp café, 2 chai nước lọc.
Bộ tam sên là gì? Ý nghĩa của bộ tam sên
Theo các chuyên gia văn hóa, bộ tam sên (hay còn gọi là bộ tam sanh) là một loại lễ vật gồm 3 loài vật tượng trưng cho Thổ – Thủy – Thiên, thường xuất hiện trong các mâm cúng Thần Linh. Đặc biệt, trong mâm cúng Thần Tài ở các tỉnh miền Nam thì bộ tam sên này không thể thiếu được.
Bên cạnh đó, bộ tam sên trong kinh Lăng Nghiêm còn hàm chứa một ý nghĩa khác.
Theo đó, Đức Phật chia chúng sanh ra làm 4 loài gồm:
Thai sanh – Thấp sanh – Noãn sanh – Hóa sanh
Và “Tam sanh” nếu hiểu theo đạo lý này thì là biểu tượng cho 3 loài là thai sanh,
noãn xanh và thấp xanh. Trong đó “noãn” là những loài được sinh ra từ trứng, “thai” là những loài được sinh ra nguyên con và “thấp” là những loài sinh ra trong môi trường thiên nhiên.
Bộ tam sên thường được dùng trong nhiều lễ cúng và chứa đựng nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng về cơ bản thì lễ tam sên có ý nghĩa như sau:
Mang ý nghĩa cao cả, tốt đẹp của dân gian Việt Nam.
Tượng trưng cho Thổ – Thủy – Thiên.
Thể hiện cho sự thành tâm của gia chủ đối với các vị Thần Linh.
Tạo ra tinh thần thoải mái, lạc quan cho gia chủ khi bắt đầu công việc gì đó…
Để cầu mong sự may mắn, thuận lợi, đủ đầy và tài lộc sẽ đến với gia đình…
3- Sắm lễ ban gia tiên:
Bày 1 mâm ở kê 1 cái bàn thấp hơn ban thờ đặt ở đó gọi là trung ban.
– Làm 1 mâm cơm canh đày đủ, nếu có gà hay lễ mặn cần phải được chặt hay thái
bày thành đĩa.
– Tiền vàng 1 đĩa.
– 1 đĩa hoa quả 5 loại quả
– 1 bình hoa tươi, 10 chén nhỏ.
– 5 lon bia, 1 bao thuốc lá, 1 chai rượu trắng, 1 đĩa bánh kẹo, 1 gói chè khô,
1 hộp café, 2 chai nước lọc.
4- Lễ khao chúng sinh (lễ bên ngoài nhà, tốt nhất ngoài đất nhà mình như ngoài
đường, vải hè, bãi đất trống gần nhà,…)
– 1 mâm bánh, kẹo, quả,….
– 1 bát cháo to hoặc 1 xoong cháo loãng không cho gia vị, không khuấy muôi thìa
vào cháo, 5 bát 5 thìa để cùng cháo.
– 1 thau nước trắng.
– 1 mâm tiền vàng để lẫn. Nếu có thêm quần áo đủ màu thì tốt.
– 1 đĩa gạo, 1 đĩa muối
– 5 ngọn nến và 1 bó hương.
Lễ nghi tuỳ tâm, Thắp nhiều hương
- Mua đồ khác
– Cốt bát nhang (thường là 13 món), mỗi bát nhang 1 bộ
– Gạo vàng thần tài: 03 gói
– Trầm hương 1 hộp.
– Chuẩn bị tờ tiền loại 500đ, 1k, 2k, 5k, 10k để cho vào trong bát nhang, mỗi bát 5
tờ 5 loại mệnh giá khác nhau.
– Tem dán bát nhang
– 1 dây vàng giấy màu vàng ở thỏi vàng để thờ
– 1 nồi nước gừng tầm 2-3 lít đun xôi để ấm
II- NỘI DUNG CÁC BƯỚC THỰC HIỆN
- Tẩy uế: Sử dụng rượu trầm hoặc nước gừng tươi đun xôi, để ấm để tẩy uế
– Tẩy uế tượng, bát nhang, đồ thờ, để khô hoặc phải lau khô, tránh để ẩm ướt bên
trong lẫn bên ngoài.
– Tẩy uế sạch sẽ chỗ đặt để ban thờ.
– Sử dụng bồ kết,… để xông phòng trước khi lập ban.
– Sử dụng hương trầm, nụ trầm để xông.
– Vừa tẩy uế vựa niệm chú “ÁN LAM XOA HA” (7 lần)
– Cuối cùng niệm chú CHUẨN ĐỀ để sái tịnh tất cả đồ thờ, không gian thờ và vật
phẩm nếu có (3 lần)
Khể thủ quy-y Tô-tất-đế,
Ðầu diện đảnh lễ thất cu chi.
Ngã kim xưng tán Ðại Chuẩn-Ðề,
Duy nguyện từ bi thùy gia hộ.
Nam-mô tát đa nẩm tam-miệu tam-bồ-đề,
Cu chi nẩm,
Ðát điệt tha.
Án,
Chiết lệ chủ lệ Chuẩn-Ðề,
Ta bà ha.
- Nạp cốt
– Gói cốt thất bảo vào trong giấy thiếp vàng. Mỗi bộ gói thành 1 gói. – Viết di hiệu bát nhang, rồi gấp nhỏ lại. Sau đó bọc cùng gói thất bảo trong 1 giấy thiếp vàng khác.
Lót đáy bát nhang bằng giấy trang kim. Dùng 3-5 loại tiền âm trải xuống đáy bát
nhang, sau đó đến 5 tờ tiền dương, đổ bộ cốt bát nhang vào. Đặt gói cốt thất bảo và di hiệu dưới đáy bát nhang. Sau đó dùng tay trái bốc tro vào trong bát. Bốc đầy bát, số nắm tro là số lẻ, nên là 5, 9, 13, 17, 21.
- Bài trí ban thờ.
- Thỉnh thánh nhập lô nhang.
Chuẩn bị xong, đặt bát hương lên bàn thờ, thắp 3 cây nhang cầm trên tay rồi thỉnh như sau:
Nam mô a di đà Phật (3 lần)
Kính trình chư vị thánh tiên, thổ công thổ địa táo phủ thần quân (thần tài, thổ địa,
chư vị chân linh) (Thờ ai thì thỉnh người đó)
Ngày hôm nay đệ tử thiết lập lô nhang phụng thờ bản gia táo phủ thần quân (thần
tài, thổ địa, chư vị chân linh), tâm hương tấu thỉnh chư vị giáng lô nhang chứng tâm cho gia trung đệ tử, nhất một lòng, trung một dạ hương khói phụng thờ chư vị tôn thần, nguyện chư vị giáng phúc trừ tai độ âm độ dương, cho gia trung đệ tử. – Thỉnh Thánh ứng bát hương:
Kính thỉnh bản gia táo phủ thần quân (thần tài, thổ địa, chư vị chân linh) lai giám lô nhang (3 lần)
Sau đó cắm 3 cây nhang đó vào chính giữa lô nhang.
- Thỉnh hội đồng gia tiên ứng lô nhang.
- Thỉnh hội đồng bà cô, ông mãnh ứng lô nhang.
- Dâng tiến thần linh và gia tiên lễ vật.
Khi mời cần mời thần linh trước, rồi mới đến gia tiên, bà cô ông mãnh. – Thắp 1 (hoặc 3) cây nhang, rót 5 chén nước, 5 chén rượu lần 1
Con niệm Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ chư vị Tôn thần
Con kính lạy ngài Kim niên đương cai thái tuế chí đức tôn thần, ngài thành hoàng
bản cảnh chư vị đại vương.
Con kính lạy ngài Đông trù tư mệnh táo phủ Thần quân
Con kính lạy ngày Gia Môn Thổ Phủ, Thổ Chủ Tài Thần, các ngài Thần Tài vị tiền
Con kính lạy Tiền Hậu địa chủ chư vị linh thần, ngài Bản xứ Thổ Địa Phúc Đức
Chính thần cùng các vị thần linh cai quản trong khu vực này.
Tín chủ chúng con là:………… Ngụ tại:……………… là nơi: ……………….
Hôm nay là ngày…. tháng…. năm…. (âm lịch), tín chủ con nhất 1 lòng, trung một
dạ cấp lập lô nhang phụng thờ ……….. Nay chúng con thành tâm sửa biện, hương hoa,
lễ vật, kim ngân, trà quả, thực và các thứ cúng dàng, dâng lên trước án, thắp nén tâm hương, kính mời ngài Thần Tài vị tiền, thổ địa và các chư vị tôn Thần đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng.
– Thắp 1 (hoặc 3) cây nhang, rót thêm vào 5 chén nước, 5 chén rượu lần 2
Con niệm Nam mô A Di Đà Phật!
Con niệm Nam mô A Di Đà Phật!
Con niệm Nam mô A Di Đà Phật!
Chúng con lễ bạc, tâm thành, nhất tâm tưởng vạn tâm cầu được phụng thờ chư vị
thần linh. Cúi xin các chư vị thần linh nhận lễ, nhận bái, nhận kêu, nhận cấp, nhận cầu, nhận kim ngân, tài mã.
Báo cáo việc thỉnh các linh vật, pháp bảo nếu có
– Thắp 1 (hoặc 3) cây nhang, rót thêm vào 5 chén nước, 5 chén rượu lần 3
- Khai quang tài mã (nếu có)
Bước 1: Sử dụng 1 gương khai quang.
Bước 2: Dùng 3 que hương (đã đốt/thắp) khua khua vòng quanh gương, viết phù:
Nhật Nguyệt Quang Minh lên mặt gương.
Bước 3: Đặt 3 que hương ra phía sau mặt gương
Bước 4: Khai quang: Lấy gương chiếu vào vật cần khai quang, vừa soi vừa đọc:
Ngã dĩ thử nhất hiện chân nhang
Thư nhật nhữ thân, hương trung hạ bộ
Chuyển động biến vi linh khí
Nhất giả nhỡn quang
Khai quang Nhỡn, nhỡn quang xuất phát
Khai quang Tị, tị căn sinh hương
Khai quang Nhĩ, nhĩ căn tốc thính
Khai quang Khẩu, khẩu căn thực thảo mộc
Cập nhất thiết thực vật
Khai quang túc
Túc năng phi đằng dũng dược
Sau đó đọc 2 câu chú sau:
“Án Linh Linh, Linh Linh (3 lần)”
“Án Ma Ni Bát Mê Hồng (3 lần)”
- Dâng chú
Chú thất tinh – Chú đại bi – Chú thổ địa – Chú thần tài – Chú bạch y thần chú
CHÚ THẤT TINH
ÚM, TÁP ĐÁ NHỊ NẴNG, DÃ BÁN NHÁ, MẬT NHÁ DÃ, NGHIỄM PHỔ
THA, MA TA PHẠ NHỊ NẴNG RA KHẤT, SƠN BÀ PHẠ ĐÔ XOÁ HA.
CHÚ ĐẠI BI
Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.
Nam-mô hắc ra đát na, đá ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô Yết-đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da.
Ma-ha-tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da.
Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.
Nam-mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da bà lô Yết-đế, thất Phật ra lăng đà bà.
Nam-mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha.
Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, câu lô câu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà la, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra.
Ma mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta-bà ha, tất đà dạ ta-bà ha.
Ma ha tất đà dạ ta-bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta-bà ha.
Na ra cẩn trì ta-bà ha. Ma ra na ra ta-bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta-bà ha. Tabà ma ha, a tất đà dạ ta-bà ha.
Giả kiết ra a tất đà dạ ta-bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta-bà ha.
Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ ta-bà ha. Ma bà rị thắng yết ra dạ, ta-bà ha.
Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da bà lô Yết-đế thước bàn ra dạ, ta-bà ha.
Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ ta-bà ha. (3 lần)
AN THỔ ĐỊA CHÂN NGÔN
NAM MÔ TAM MÃN ĐÁ MỘT ĐÀ NẪM,
ÁN ĐỘ RÔ, ĐỘ RÔ, ĐỊA VĨ TÁ BÀ HA
CHÚ THẦN TÀI
UM MUN NI UM, MÚC ĐÔ MĂN ĐÔ, TỲ HÊ SỒ HÁP
BẠCH Y THẦN CHÚ
(Nam mô đại từ đại bi – Tầm thinh cứu khổ, cứu nạn – Quảng đại linh cảm – Bạch
Y Quán thế âm Bồ tát ) – 3 lần.
Nam mô – Bút đada – Nam mô – Đạtmada – Nam mô xănggada.
Nam mô – Arida – Avalôkitê – Xoarada – Tadactha.
( Ohm – Gara oata – Gara oata – Gaha oata – Raga oata – Raga oata – Xoá ha ) – 7 – 21 –108 biến.
Thiên la Thần, Địa la Thần. Nhân ly nạn, Nan ly thân, Nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Nam mô Bạch y Quán Thế Âm Bồ tát – Cảm ứng chứng minh cho con
là……………………………….tuổi……..địa chỉ……………
- Sám hối
Tụng chú Bát nhã hoặc khấn sám hối nôm
BÁT NHÃ TÂM KINH
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng
bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc, vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát đỏa Y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại; vô
quái ngại cố, vô hữu khủng bố; viễn ly điên đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết Bàn. Tam thế Chư Phật, Y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, Đắc A nậu đa la Tam miệu Tam Bồ đề. Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú. Tức thuyết chú viết: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha. (3 lần)
- Hồi hướng công đức
Chúng con xin hồi hướng công đức này cho bách gia trăm họ chúng con được sở cầu
như ý, sở nguyện tòng tâm.
- Phát nguyện
Con nguyện một lòng, tâm 1 dạ được thờ phụng chư vị thần, linh chư vị tôn thần tại nơi
đây.
- Cầu xin
Cúi xin chư vị thần linh phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành,
công việc hanh thông, thịnh vượng, âm phù dương trợ, đắc ngộ quý nhân, thương mại hanh
thông, lộc tài tăng tiến, khách xa dẫn đến, khách gần đem về. Con cầu xin các ngài phù hộ
cho tín chủ con có tài, có lộc, có ngân, có xuyến, có danh, có tiếng, trên lo việc âm công
phúc đức, dưới gánh việc gia trung, để (cửa hàng, công ty,….) ngày càng phát triển.
Kinh xin các ngài độ cho toàn gia chúng con sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật!
PHẦN 2: LỄ CHÚNG SINH
Dùng bài lễ chúng sinh
hoặc khấn nôm theo hướng dẫn sau
B1: Sau khi bày lễ thì xin các chư vị phật thánh, thần linh được dâng khao chúng
sinh.
B2: Khấn nôm mời chúng sinh về thụ hưởng lễ vật.
Lưu ý: Không khấn cả họ tên, địa chỉ, mà chỉ khấn họ gì, ở đâu chung chung.
Kím mời chúng sinh không mả, không mồ bốn phương
Gốc cây xó chợ đầu đường
Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang
Quanh năm đói rét cơ hàn
Không manh áo mỏng – che làn heo may
Cô hồn năm bắc đông tây
Các chiến sĩ vô danh
Các đồng bào tử nạn
Trẻ già trai gái về đây hợp đoàn
Nay nghe tín chủ thỉnh mời
Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau
Bánh kẹo, cháo nẻ, Tiền vàng (quần áo đủ màu đỏ xanh)
Gạo muối quả thực hoa đăng
Mang theo một chút để dành mai sau
Xin hãy ăn cho đều, chia cho đều
Chớ cậy rằng nhiều, không chê là ít
B3: Sau khi dâng cúng lễ vật xong thì đến chú:
Thần chú diệt chướng ngại Khai yết hầu chân ngôn
“Án, Ba bộ đế, rị già đa, rị đác, đa nga đa da”.
Biến thực chân ngôn (biến đồ ăn cho nhiều): Na mô tát phạ đát tha ngha đa, phạ lô chỉ đế, án, tam ba ra, tam bạt ra hồng. (7 lần)
Chân ngôn Cam lồ thủy: (biến nước uống cho nhiều)
NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN TÔ
RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, TA BÀ HA (7 lần)
Chân ngôn cúng dường: Án, nga nga nẵng, tam ba phạ, phiệt nhật ra hộc.
CHÚ VÃNG SINH:
Nam-mô a di đa bà dạ. Ða tha dà đa dạ. Ða địa dạ tha.
A di rị đô bà tỳ. A di rị đa tất đam bà tỳ
A di rị đa tì ca lan đế. A di rị đa, tì ca lan đa
Dà di nị dà dà na. Chỉ đa, ca lệ ta bà ha
Lưu ý khi chú từ 3-7-21-108 biến mỗi chú. Luôn bắt ấn TÝ (phát khí) khi chú.
B4: Hồi hướng công đức và phát nguyện: Phát nguyện và hồi hướng công đức cho các cô hồn sớm được siêu sinh tịnh độ, lên cõi niết bàn, ăn mày phật thanh, sang cõi vãng sinh cực lạc.
B5: Cầu xin.
B6: Mời các cô hồn sau khi thụ hướng lể vật, nhận kim ngân xong thì ở đâu về đó.
Bây giờ nhận hưởng xong rồi
Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần
Tín chủ thiêu hóa kim ngân
Cùng với quần áo đã được phân chia
Xin các cô hồn
Đông hồi đông, tây hồi tây, nam hồi nam, bắc hồi bắc, trung ương hồi trung ương
Không được quay trở lại đây khi gia chủ không thỉnh mời
Cúi xin chư vị phật thánh, chư vị thần linh giám sát việc này.
B7: Hoá tiền vàng, rắc gạo muối, cháo lẻ.
(Lưu ý: Cháo không cho gia vị và muối, nấu loãng là được)
ĐỌC THÊM
Biến thực chân ngôn có nghĩa là:
(變食真言) Là thần chú biến hóa ra các thức ăn cho các trời và quỉ đói. Cũng gọi
Biến thực chú, Biến thực đà la ni. Thần chú này được chép trong kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni (Đại 21, 465 thượng) như sau: Na mô tát phạ đát tha nghiệt đa, phạ lô chỉ đế, án, tam ba ra, tam bạt ra hồng. Kinh này ghi chép khi đức Phật nói pháp ở Tăng già lam Ni câu luật na tại Ca tì la, lúc ấy, ngài A nan đang ngồi ở nơi thanh vắng tu tập thiền định, ban đêm, sau canh ba, chính ngài A nan thấy một quỉ đói Diệm khẩu (miệng lửa), thân hình xấu xí gầy đét, trong miệng lửa cháy, cổ họng nhỏ như mũi kim, đầu tóc rối bù, móng tay và răng dài, nhọn hoắt, trông rất đáng sợ. Quỉ Diệm khẩu bảo ngài A nan là 3 ngày sau Ngài sẽ chết và cũng rơi vào loài quỉ đói. A nan rùng mình sợ hãi liền hỏi quỉ đói làm cách nào để thoát được khổ? Quỉ Diệm khẩu mới chỉ bày cho ngài A nan, nói: nếu bố thí cho vô lượng quỉ đói và trăm nghìn tiên Bà la môn, rồi cúng dường Tam bảo cầu cho quỉ đói được sinh lên cõi trời, thì Ngài (A nan) sẽ được sống lâu thêm. Ngài A nan vội đến chỗ đức Phật, đem việc thấy quỉ đói bạch với đức Phật và xin Ngài chỉ dạy. Đức Phật liền vì ngài A nan mà tuyên nói đà la ni có vô lượng uy đức tự tại quang minh thù thắng diệu lực (tức Biến thực chân ngôn). Cứ theo Tiêu thích kim cương khoa nghi hội yếu chú giải quyển 2 chép, thì hành giả niệm chân ngôn này, hoặc ba biến, bảy biến, hoặc 21 biến, thì nhờ sức thần của chân ngôn, các vật cúng tự nhiên biến thành các thức ăn thơm ngon của các trời, đều có năm thứ hương vị và nhiều như cả núi Tu di. Làm phép biến thực này, trước hết dùng chân ngôn Tịnh pháp giới chữ Lam và bắt ấn Cát tường gia trì 21 biến để làm cho thức ăn được trong sạch, kế đó niệm Biến thực chân ngôn và sau cùng niệm Phổ cúng dường chân ngôn (Vạn tục 92, 137 hạ): Án, nga nga nẵng, tam ba phạ, phiệt nhật ra hồng. Ngoài ra, theo Oánh sơn hòa thượng thanh qui quyển hạ của Nhật bản nói, thì chân ngôn rảy nước được trì tụng trong hội cúng thí quỉ đói là (Đại 82, 446 trung): Nam mô tát phạ đát tha nghiệt đa, phạ lô chỉ đế, án, tam ma la, tam ma la hồng. [X. kinh Du già tập yếu cứu a nan đà la ni diệm khẩu quĩ nghi; Từ giác đại sư thỉnh lai mục lục; Phật môn tất bị khóa tụng bản].
Cam lồ thuỷ chân ngôn
Khi tụng chú này, quán tưởng cúng nước biến thành pháp thủy cam lồ, rộng lớn như biển, cùng vật không ngăn, thắm đến nước đây, thường được thanh tịnh diệu lạc. Đây là pháp thí cam lồ của đức Phật Diệu sắc thân Như Lai. Kinh Thí Ngạ Quỉ nói: ”Tụng chú này bảy biến, hay khiến các món ẩm thực và nước đều biến thành màu sữa cam lộ, hay mở rộng cuống họng của tất cả ngạ quỉ, mà được cùng ăn với nhau một cách bình đẳng” Hỏi: Nếu nói vật ăn và nước uống đều khắp cả thế giới,vậy xin hỏi Phật và chúng sanh để thân đứng, ngồi vàochỗ nào ?
Đáp: Kinh Lăng Nghiêm nói: ”Tánh của sắc là chân không, tánh của không là chân sắc”.
Kinh ấy lại nói:”Tánh của thủy là chân không, tánh của không là chân thủy, thanh tịnh bản nhiên, châu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng khả tri lượng, tùy nghiệp phát hiện”. Lời nói đó có nghĩa là: Tánh của nước là chân không,tánh của không (do nhân duyên mà có) là chân nước,tánh của nó là bản nhiên thanh tịnh, biến khắp pháp giới,tùy tâm của chúng sanh phân biệt như thế nào, thì hiện ra theo sự hiểu biết của chúng sanh thế ấy. Đó là do tùy theo nghiệp lực của chúng sanh mà hiện ra đó thôi. Kỳ thật thì tánh thể của muôn vật trùm khắp cả pháp giới,thanh tịnh bản nhiên, không sanh không diệt.
Nay hành giả quán trí đều thanh tịnh khắp giáp, thì nước và đồ ăn đâu chẳng khắp giáp. Khi tâm thanh tịnh, thì vật thực uống ăn đều thanh tịnh. Nếu đứng về mặt hiện tượng của vạn pháp, thì ta thấy có chướng ngại nhau. Ngược lại, nếu đứng về mặt bản thể, thì không có gì ngăn ngại. Dụ như đối với muôn vật có hình tướng ở thế gian,thì chúng ngăn ngại nhau, nhưng hư không, thì làm gì cóngăn ngại. Hư không là dụ cho bản thể hay pháp thân.Hiểu thế, thì ta thấy, người cúng thí và vật cúng thí, cả hai tánh thể đều vắng lặng. Chính đó là ý nghĩa khắp cả pháp giới vậy. Như thế, thì pháp vị nhiệm mầu thật khó nghĩ lường.
“MÔNG SƠN THÍ THỰC YẾU GIẢI”
Thần chú Phổ cúng dường chân ngôn
“Án, Nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hộc”
Khi tụng chú đây, quán tưởng từ trước lại về chỗ biến môn tịnh thực, khắp thí chúng sinh trong lục đạo mười phương, kẻ xa gần đồng một thể, bậc cao thấp đều bình đẳng, người già trẻ, đấng sang hèn, không phân sót, hạng mạnh yếu, bọn oán thân chẳng phân cách.
Kinh Tịnh Danh nói: “ Hội pháp thí ấy là không hề phân cách trước sau, đồng nhất thời cúng dường tất cả chúng sinh”.
Niệm thêm chú Tâm Kinh, đó là muốn tỏ bày ra cái công thí thực hoà lẫn vào nơi biển Bát Nhã vô tận tạng. Chỉn bởi Tâm Kinh là tinh yếu của Bát Nhã. Bát Nhã tức là trí huệ, nếu không có trí huệ thì làm gì có thể liền sạch lòng cho được! E chúng kia chấp trước nơi công đức pháp ái làm thực sự, nên dùng Bát Nhã Tâm Kinh để rửa sạch bụi lòng, hoà lẫn vào biển Như Lai tạng.
Lại niệm chú Vãng sinh đó là để mong nhờ Phật A Di Đà và các Thánh Chúng phóng quang tiếp dẫn, mau chứng bậc Thánh nơi Cực Lạc quốc.
